“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”: 80 năm hành trình kiến tạo sức mạnh nội sinh và dấu ấn đổi mới tại vùng Nam Bộ
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc, và ngay trong bối cảnh lịch sử đối mặt với muôn vàn thách thức của một quốc gia vừa giành lại nền độc lập, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946) đã được tổ chức trọng thể. Trải qua 80 năm (24/11/1946 - 24/11/2026), triết lý văn hoá sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” không chỉ là ngọn đuốc soi sáng những chặng đường cứu quốc, mà nay đã trở thành hệ tư tưởng nền tảng, định hướng cho toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Không gian trưng bày thành tựu của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
Tầm nhìn
chiến lược và hành lang pháp lý cho sự vươn mình của văn hóa
Năm 2026 đánh dấu một cột mốc lịch sử mang tính bước
ngoặt khi sự phát triển của văn hóa được thể chế hóa bằng những quyết sách vĩ
mô chưa từng có. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW (ngày
07/01/2026), nâng tầm tư duy chiến lược khi khẳng định văn hóa và con người là
nền tảng, là động lực to lớn, đồng thời đóng vai trò trụ cột, hệ điều tiết cho
sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Cụ thể hóa
tầm nhìn này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 (ngày
24/4/2026), chính thức xác lập ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam.
Đây là một quyết sách mang giá trị nhân văn sâu sắc, quy định rõ người lao động
được nghỉ làm việc hưởng nguyên lương, đồng thời được miễn, giảm phí tham quan,
thưởng thức nghệ thuật tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập. Sự kiện này
khẳng định quyết tâm chính trị to lớn trong việc kiến tạo một môi trường thuận
lợi nhất để Nhân dân không chỉ là người gìn giữ mà thực sự là chủ thể sáng tạo,
thực hành và thụ hưởng các giá trị văn hóa.
Mạch ngầm di
sản và động lực kinh tế văn hóa tại vùng Nam Bộ
Dưới lăng kính nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt
trong không gian văn hóa Nam Bộ – nơi giao thoa của những luồng tiếp biến văn
hóa đa dạng, tính năng động của kinh tế thị trường và sự chuyển đổi số mạnh mẽ
– văn hóa chưa bao giờ là những hiện vật tĩnh lặng nằm yên trong kho lưu trữ
hay trên những trang báo quốc ngữ xưa cũ. Từ những di sản đô thị, những nếp
sinh hoạt tại các ngôi chợ truyền thống, đến các diễn ngôn truyền thông trên
không gian mạng hiện đại, văn hóa chính là nguồn lực nội sinh. Việc thúc đẩy
liên kết giữa văn hóa, du lịch, công nghệ và các ngành kinh tế là yêu cầu tất
yếu để khai thác hợp lý các nguồn lực, tạo ra sức hấp dẫn cho các điểm đến văn
hóa, mở rộng thị trường, kiến tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Phát
triển công nghiệp văn hóa chính là quá trình chuyển hóa bản sắc thành sức mạnh
mềm quốc gia, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và gìn giữ
cốt cách dân tộc.

Không gian trưng bày của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Văn hóa đại đoàn kết: Chất keo gắn kết xã hội từ cơ sở
Không phải ngẫu nhiên mà chuỗi hoạt động Tuần văn hóa
đại đoàn kết dân tộc được tổ chức gắn liền giữa Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân
tộc (18/11) và Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11). Xuyên suốt 96 năm lịch sử, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đã chứng minh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối
chiến lược, là cội nguồn sức mạnh và nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong
bối cảnh xã hội đương đại với những biến thiên phức tạp, tinh thần đoàn kết,
tình làng nghĩa xóm, và sự đồng thuận xã hội được bồi đắp từ cơ sở chính là bộ
lọc đề kháng hiệu quả nhất trước những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc
lịch sử, phủ nhận giá trị văn hóa dân tộc. Ngày hội đại đoàn kết tôn vinh tính
tự nguyện, khơi dậy sức mạnh của cộng đồng dân cư trong việc tương trợ, sẻ chia,
bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự và xây dựng đời sống văn minh.
Sứ mệnh của nghiên cứu và truyền thông trong kỷ nguyên
số
Là một Viện nghiên cứu trọng điểm của khu vực, Viện
Khoa học xã hội vùng Nam Bộ mang trên vai sứ mệnh giải mã các hiện tượng văn
hóa, cung cấp các luận cứ khoa học sắc bén phục vụ công tác tư vấn chính sách
và định hướng dư luận xã hội. Công tác tuyên truyền không thể dừng lại ở những
khẩu hiệu sáo rỗng, mà phải được hiện đại hóa qua hệ sinh thái truyền thông đa
nền tảng (podcast, infographic, video tương tác), biến những tri thức hàn lâm
thành thông điệp sống động, có sức lan tỏa sâu rộng đến từng nhóm công chúng,
đặc biệt là thế hệ trẻ. Đội ngũ trí thức, nghiên cứu viên và những người làm
công tác truyền thông của Viện cam kết lấy thực tiễn sinh động của đời sống văn
hóa làm không gian nghiên cứu, góp phần thắp sáng ngọn đuốc “văn hóa soi đường”,
kiến tạo nên một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, vì một đất
nước phồn vinh, hạnh phúc và hội nhập vững chắc.
Trúc Bạch