image banner
VI | EN
  • SỰ THAM GIA CỦA ẤN ĐỘ TRONG TỔ CHỨC HỢP TÁC THƯỢNG HẢI – MỘT THAM KHẢO VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CHO CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

    Trong bối cảnh chính trị thế giới đang chứng kiến sự trỗi dậy của các quốc gia đang phát triển ở phía Nam bán cầu, các quốc gia đang phát triển nói chung, Ấn Độ nói riêng đã và đang trở thành chủ thể năng động trong chính trị quốc tế. Điều này được thể hiện rõ ở sự tham gia chủ động, tích cực của Ấn Độ trong tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích chính sách và nghiên cứu trường hợp, bài viết chỉ ra rằng, thông qua đa nội dung chính sách, vận dụng đa công cụ, Ấn Độ không những đã khẳng định được vị thế của mình trong SCO mà còn được xem là một quốc gia đang phát triển ở châu Á thành công trong việc bày tỏ quan điểm, quyền lợi, sự bình đẳng và tính đại diện cho các quốc gia trong các tổ chức quốc tế.

  • PHÁT HUY BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP SỐ: GÓC NHÌN TỪ VIỆT NAM

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy của tiến trình hội nhập số. Chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội phát triển, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Làm thế nào để bản sắc của một dân tộc không bị hòa tan giữa dòng chảy toàn cầu, mà ngược lại, trở thành điểm tựa và động lực trong thời đại số? Bài viết trình bày một số vấn đề mang tính lý luận nhằm bước đầu trả lời cho câu hỏi cấp thiết này qua góc nhìn từ Việt Nam.

  • CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG CHUYỂN ĐỔI XANH Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY

    Chuyển đổi xanh là một chiến lược quan trọng mà Việt Nam đang đeo đuổi. Bằng các cam kết quốc tế trong bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, Việt Nam đã xây dựng các văn bản pháp lý quan trọng, lồng ghép chuyển đổi xanh trong phát triển… Là vùng đất có nhiều thế mạnh và tiềm năng, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhằm tiến tới mục tiêu tăng trưởng xanh. Bài dựa trên các tổng quan, đánh giá thực trạng của vùng ĐBSCL, xác định các cơ hội và các thách thức cơ bản trong quá trình chuyển đổi xanh ở ĐBSCL để tìm kiếm phát huy các thế mạnh, tận dụng tốt các cơ hội và đồng thời giải quyết các khó khăn, vượt qua các thử thách nhằm thực hiện chuyển đổi hiệu quả, đạt mục tiêu tăng trưởng xanh.

  • AN NINH NGUỒN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG MÊ KÔNG: VÙNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA

    An ninh nguồn nước tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia trên lưu vực sông Mê Kông đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến sinh kế, an ninh lương thực và sức khỏe cộng đồng dân cư vùng biên giới. Bài viết phân tích thực trạng và xác định ba nhóm thách thức chính. Thứ nhất, sự phát triển thủy điện ở thượng nguồn, đặc biệt là trên dòng chính, đã làm thay đổi cơ bản chế độ thủy văn, gây ra các dao động dòng chảy bất thường, giảm lũ tự nhiên, và gia tăng xâm nhập mặn ở hạ lưu. Thứ hai, chất lượng nguồn nước suy thoái nghiêm trọng do ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp thâm canh (lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu), nước thải công nghiệp chưa qua xử lý và chất thải sinh hoạt. Thứ ba, các cơ chế hợp tác xuyên biên giới còn nhiều bất cập, thiếu hiệu quả thực thi và thiếu sự tham gia của các quốc gia thượng nguồn chủ chốt. Trên cơ sở thực trạng, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm tăng cường hiệu quả hợp tác và quản lý bền vững nguồn nước.

  • TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO (Nghiên cứu trường hợp Phật giáo tỉnh Đồng Nai)

    Đạo Phật là một triết lý vị nhân sinh, quan tâm đến hạnh phúc của con người trong mối quan hệ với thiên nhiên và xã hội. Dựa trên một số tài liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát định tính, nghiên cứu phân tích trách nhiệm xã hội của Phật giáo tỉnh Đồng Nai thể hiện trên hai phương diện đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Qua đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị đối với chức sắc, tăng, ni nhằm phát triển hơn nữa vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội của địa phương.

  • BẤT BÌNH ĐẲNG TỪ TÁC ĐỘNG TOÀN CẦU HÓA – TRƯỜNG HỢP CÁC NƯỚC ASEAN (1990 - 2025)

    Toàn cầu hóa đã tác động sâu sắc đến các nước và khu vực trên thế giới. Trong ASEAN, tiến trình này chi phối và khuếch đại bất bình đẳng phát triển thể hiện qua bốn biểu hiện chính: (1) sự đa dạng thể chế và giới hạn cấu trúc ASEAN; (2) chênh lệch kinh tế - xã hội giữa và trong các quốc gia; (3) bất bình đẳng sắc tộc, xung đột gắn với phụ thuộc bên ngoài; và (4) di cư như hệ quả của chênh lệch phát triển. Dựa trên khung lý thuyết phát triển không đồng đều (Smith, 1984; Harvey, 2006) và lý thuyết phụ thuộc (Cardoso và Faletto, 1979), nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính với dữ liệu từ UNDP, ASEAN Secretariat, World Bank, IOM. Kết quả nghiên cứu cho thấy, toàn cầu hóa đã tái sản xuất bất bình đẳng lịch sử, sắc tộc, giới và không gian ở các nước ASEAN. Để khắc phục, các nước này cần tăng cường hợp tác nội khối như thành lập quỹ phát triển chung, đào tạo quản trị và bảo hộ lao động di cư, nhằm thu hẹp khoảng cách và thúc đẩy phát triển bao trùm.

  • THỰC TRẠNG TIẾP CẬN NGUỒN NƯỚC SẠCH TRONG SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN Ở TỈNH ĐỒNG NAI

    Những năm qua tỉnh Đồng Nai đã có nhiều nỗ lực trong đảm bảo cung cấp nguồn nước sạch trong sinh hoạt của người dân như mở rộng cơ sở hạ tầng, mạng lưới cung cấp nước sạch tập trung. Tuy nhiên vẫn còn những trở ngại như hạ tầng đường ống, chi phí lắp đặt cao và rào cản về hành chính. Dựa trên dữ liệu định lượng (khảo sát 1.000 hộ gia đình) và định tính (69 phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý và người dân) bài viết tập trung phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước sạch tập trung, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe của người dân trong tỉnh.

  • QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC SINH THÁI TRONG ĐẠO ĐỨC KINH CỦA LÃO TỬ

    Triết học sinh thái là một lĩnh vực triết học liên ngành hiện đại, hình thành từ giữa thế kỷ XX như một phản ứng phê phán đối với hệ tư tưởng khai thác và thống trị tự nhiên vốn chi phối quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa toàn cầu. Với mục tiêu xây dựng một nền tảng triết lý mới cho mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên, triết học sinh thái đề xuất thế giới quan phi nhân bản trung tâm, đề cao giá trị nội tại của tự nhiên và hướng tới một lối sống, đạo đức thuận theo tự nhiên và mô hình phát triển bền vững. Tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử không trực tiếp bàn về môi trường theo nghĩa kỹ thuật hiện đại, nhưng chứa đựng nhiều khái niệm triết lý có giá trị nền tảng cho tư duy sinh thái như: “Đạo” nguyên lý sinh thành và điều phối vạn vật; “vô vi” hành xử thuận theo tự nhiên, không can thiệp cưỡng chế; “thiểu dục” và “tri túc” tiết chế dục vọng và tiêu dùng có giới hạn; “phản” chu kỳ tuần hoàn sinh thái. Những tư tưởng này không chỉ là thành tựu triết lý độc đáo của phương

  • HIỂU BIẾT SỐ VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

    Dựa trên việc tổng hợp, phân tích tài liệu, bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận nghiên cứu về hiểu biết số và mối quan hệ của nó với sự phát triển con người trong xã hội đương đại. Hiểu biết số không chỉ gắn với kỹ năng công nghệ mà còn hàm chứa các yếu tố văn hóa, xã hội và đạo đức, qua đó có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển con người thông qua mở rộng cơ hội, nâng cao năng lực và đảm bảo quyền tham gia đầy đủ của con người trong xã hội số.

  • CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở QUẢNG NGÃI

    Bồi dưỡng công chức, viên chức là yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Từ nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ tỉnh Quảng Ngãi trước ngày 01/7/2025, bài viết phân tích công tác bồi dưỡng công chức, viên chức tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2019-2024. Theo đó, công tác bồi dưỡng công chức, viên chức của tỉnh được chú trọng với nội dung đa dạng, tập trung phát triển chuyên môn và quản lý, đặc biệt từ sau đại dịch COVID-19, đối với cấp xã và vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, quy trình tổ chức và chất lượng đào tạo còn hạn chế nhất định, cần có giải pháp tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hướng đến kiến tạo nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh.

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1