image banner
VI | EN
  • CHÍNH SÁCH TUẦN TRA VÀ KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN PHÍA NAM CỦA TRIỀU NGUYỄN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

    Vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã triển khai một hệ thống tuần tra và kiểm soát vùng biển phía nam nhằm đối phó với tình trạng hải tặc, sự qua lại phức tạp của thuyền buôn và nguy cơ xâm nhập từ bên ngoài. Dựa trên các chỉ dụ, lệnh điều binh thủy, cũng như công việc đo đạc bản đồ duyên hải được ghi chép trong Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ…, bài viết chỉ ra một hệ thống các chính sách tuần tra, kiểm soát trên biển khá quy củ được triều Nguyễn thực hiện trong nửa đầu thế kỷ XIX. Trên thực tế, công tác tuần tra, kiểm soát này đã trở thành công cụ để duy trì trật tự ven biển, điều chỉnh quan hệ giữa triều đình và cộng đồng cư dân, đồng thời khẳng định chủ quyền quốc gia.

  • ĐỒN ĐIỀN CAO SU TỈNH THỦ DẦU MỘT TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NĂM 1939

    Dựa vào tài liệu lưu trữ, bài viết trình bày quá trình hình thành, hoạt động, phát triển của các đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một trong bốn thập niên đầu thế kỷ XX. Giai đoạn này các đồn điền có giá trị kinh tế rất lớn, tác động sâu rộng trên nhiều phương diện khác nhau đối kinh tế - xã hội địa phương.

  • TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DI CƯ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐẾN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

    Vùng Đông Nam Bộ, trung tâm kinh tế năng động của Việt Nam, là điểm đến của nhiều dòng di cư, trong đó có các nhóm dân tộc thiểu số. Bài viết tổng quan các nghiên cứu về di cư của các dân tộc thiểu số đến vùng Đông Nam Bộ nhằm xác định những chủ đề trọng tâm và khoảng trống nghiên cứu. Kết quả cho thấy hầu hết các nghiên cứu tập trung vào nguyên nhân di cư, sinh kế, việc làm và hội nhập xã hội, trong khi các khía cạnh về thể chế, chính sách vùng, quá trình định cư lâu dài, khả năng thích nghi và duy trì bản sắc văn hóa ít được quan tâm. Các nghiên cứu mang tính hệ thống hoặc so sánh liên vùng, liên tộc người cũng còn hạn chế. Việc nhận diện những khoảng trống này sẽ góp phần định hướng các nghiên cứu tiếp theo và cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng, điều chỉnh chính sách đối với cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng Đông Nam Bộ.

  • BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU DI TÍCH KIẾN TRÚC AN PHÚ - GIA LAI

    Di tích An Phú (Pleiku - Gia Lai) được xác định là kiến trúc Bơmong Yang. Bơmong Yang là một ngôi tháp bằng gạch có tường bao nằm trên một gò thấp nghiêng thoải dốc hướng xuống vùng bình nguyên Kơdơ rộng lớn. Từ năm 2022 đến nay, di tích đã liên tục được thăm dò, khai quật. Tư liệu phát hiện ở An Phú cho phép bước đầu đi đến nhận định đây là một kiến trúc đền tháp Phật giáo có niên đại ước định vào khoảng thế kỷ VII - VIII đến thế kỷ X, có mối quan hệ với các di tích Phật giáo ở duyên hải Nam Trung Bộ và khu vực. Phát hiện này đem lại nhận thức mới về mối quan hệ của loại hình kiến trúc tôn giáo ở Tây Nguyên, về lịch sử xuất hiện và phát triển của Phật giáo ở miền cao Trường Sơn - Tây Nguyên; cũng như gợi mở hướng nghiên cứu về vai trò của Phật giáo ở miền đất này, ở Tây Nguyên và khu vực.

  • THỰC HÀNH BỐ THÍ CỦA TĂNG NI, PHẬT TỬ TẠI ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAY

    Bố thí Ba-la-mật là một trong sáu pháp thực hành để đạt giác ngộ của Phật giáo. Bố thí Ba-la-mật gồm: Tài thí, pháp thí, và vô úy thí. Dựa trên kết quả điều tra định tính tại 8 cơ sở thờ tự Phật giáo ở Đông Nam Bộ cùng một số tài liệu thứ cấp cho thấy, các tăng, ni, phật tử vùng Đông Nam Bộ thông qua các hoạt động tài thí như, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, người già neo đơn, tặng nhà tình thương cho người nghèo, hay hỗ trợ xã hội trong đại dịch COVID-19, đã đồng thời thực hiện vô úy thí, vì đã góp phần động viên, an ủi những người kém may mắn và những người rơi vào tình thế nguy nan. Hoạt động pháp thí không chỉ giúp cho phật tử có nhận thức và hành vi tích cực trong đời sống, mà còn giúp họ chữa lành những tổn thương.

  • BIẾN ĐỔI TRONG NGHỆ THUẬT TƯỢNG NHÀ MỒ CỦA NGƯỜI GIA RAI DƯỚI GÓC NHÌN LÝ THUYẾT SINH THÁI VĂN HÓA (Nghiên cứu tại xã Ya Xiêr, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum)

    Trong quá trình hình thành và phát triển, người Gia Rai đã kiến tạo nên những nét văn hóa tộc người đặc sắc. Nghiên cứu dựa trên một số quan điểm cơ bản của thuyết sinh thái văn hóa tìm hiểu sự thích nghi của người Gia Rai xã Ya Xiêr, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum (cũ) với môi trường sống qua những thay đổi trong nghệ thuật tượng nhà mồ của họ. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu về phong tục tập quán của một cộng đồng dân tộc ít người trong nhịp sống đương đại; bên cạnh đó bổ sung nguồn tham khảo về hiện trạng của một loại hình văn hóa dân gian vùng Tây Nguyên.

  • HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI STIÊNG Ở THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC (CŨ) TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA

    Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát (tháng 5/2025) về thu nhập từ trồng lúa, cao su, điều, một số loại cây trồng khác và chăn nuôi nhỏ lẻ trong gia đình của người Stiêng vùng đô thị hóa tại phường Hưng Chiến và xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước cũ cho thấy: sản xuất nông nghiệp vẫn là hoạt động kinh tế quan trọng, các chính sách hỗ trợ cho cộng đồng người Stiêng cần lưu ý đến đặc điểm sinh kế này.

  • CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở XÃ PHÚ VINH, HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

    Phú Vinh là một xã nông thôn thuộc khu vực miền núi huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, nơi người Hoa chiếm hơn 60% dân số. Phần lớn người Hoa ở Phú Vinh có nguồn gốc từ các cộng đồng người Hoa đã cư trú lâu đời ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, chủ yếu là tỉnh Quảng Ninh, di cư vào miền Nam từ năm 1954. Trên cơ sở vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp sử kể (oral history), bài viết tìm hiểu sự định cư của cộng đồng người Hoa tại đây từ thời điểm nhập cư đến nay.

  • THỰC HÀNH TÔN GIÁO CỦA PHẬT TỬ VÙNG ĐÔNG NAM BỘ: TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG XÃ HỘI CỦA MAX WEBER

    Dựa trên dữ liệu định tính được thu thập bằng quan sát tham dự, phỏng vấn sâu tại các chùa ở TPHCM, Tây Ninh và Đồng Nai, bài viết phân tích ý nghĩa các thực hành tôn giáo của phật tử vùng Đông Nam Bộ qua khung lý thuyết hành động xã hội (duy lý giá trị, duy lý mục đích, truyền thống và cảm xúc phản ánh sự đa dạng trong động cơ và cách thực hành tôn giáo của phật tử) của Max Weber. Nghiên cứu cho thấy, phật tử vùng Đông Nam Bộ không chỉ tiếp nhận giáo lý Phật giáo mà còn chủ động thực hành, diễn giải và kiến tạo ý nghĩa cho niềm tin của mình. Đáng chú ý, ý nghĩa mà họ gán cho các thực hành tôn giáo của mình thay đổi theo thời gian, từ cảm xúc và truyền thống ban đầu sang định hướng giá trị và lý tưởng đạo đức sâu sắc hơn. Nghiên cứu góp phần mở rộng ứng dụng lý thuyết Weber vào bối cảnh Phật giáo Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của phật tử như chủ thể hành động trong đời sống tôn giáo hiện đại.

  • ĐÔNG NAM BỘ TRONG MẠNG LƯỚI TƯƠNG TÁC VĂN HÓA THỜI KIM KHÍ: NHẬN THỨC QUA PHÁT HIỆN KHẢO CỔ HỌC (2015 - 2025)

    Dựa trên những phát hiện khảo cổ được khai quật từ năm 2015 đến năm 2025, bài viết này làm sáng tỏ mạng lưới tương tác văn hóa đa chiều đã xuất hiện ở Đông Nam Bộ Việt Nam trong thời đại Kim khí. Thông qua việc phân tích các bộ sưu tập hiện vật - phong phú về cả chất liệu lẫn nguồn gốc - nghiên cứu này cung cấp bằng chứng sống động về sự tham gia tích cực của các cộng đồng địa phương vào mạng lưới thương mại hàng hải thời đại Đồ sắt (khoảng 2.500 - 2.000 năm trước). Phát hiện nổi bật nhất là đồ trang sức bằng ngọc nephrite có nguồn gốc từ Đài Loan và đá mica xanh ở miền Trung Philippines. Đáng chú ý, những mặt hàng thương mại giá trị cao này không chỉ giới hạn ở vùng ven biển mà chúng được tìm thấy sâu trong nội địa khoảng 50km, cho thấy một hệ thống phân phối rộng khắp thời bấy giờ. Sự du nhập của những sản phẩm giá trị cao này được coi là chất xúc tác cho sự chuyển đổi xã hội sâu sắc, thúc đẩy sự phân tầng xã hội và sự hình thành của tầng lớp tinh hoa, tù trưởng và trung tâm quyền lự

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1