image banner
VI | EN
  • EXPLORING ENGLISH TEACHERS’ PERCEPTIONS OF AI CHATBOTS IN ENGLISH LANGUAGE INSTRUCTION: A CASE STUDY AT DONG NAI UNIVERSITY

    The rapid advancement of artificial intelligence (AI) has encouraged the adoption of AI-powered chatbots in English as a Foreign Language (EFL) classrooms. This study explores English teachers’ perceptions of the opportunities and challenges of using chatbots in English instruction at Dong Nai University, Vietnam. A mixed-methods design was employed, combining a quantitative online survey of 112 teachers and semi-structured interviews with 18 participants. The findings reveal that most teachers hold positive attitudes toward chatbots, acknowledging their potential to enhance learner engagement, support autonomous learning, and provide immediate feedback. However, several challenges were identified, including concerns about content accuracy, curriculum alignment, ethical data use, and teachers’ limited digital competence. The qualitative insights highlight the need for pedagogical training, technical assistance, and institutional policies to facilitate effective integration. While teach

  • CÁC LÝ THUYẾT VÀ CÁCH TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN CỨU HẠNH PHÚC Ở TRƯỜNG HỌC CỦA HỌC SINH

    Môi trường học đường đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa trẻ em. Trong đó, sự cảm nhận về hạnh phúc của học sinh được các nhà nghiên cứu quan tâm dưới các lý thuyết và cách tiếp cận khác nhau: lý thuyết hạnh phúc chủ quan, lý thuyết hệ sinh thái, lý thuyết tâm lý học tích cực, lý thuyết tự quyết và tiếp cận quyền trẻ em. Mỗi lý thuyết, cách tiếp cận có đặc điểm và tính ứng dụng khác nhau, được áp dụng tùy theo bối cảnh nghiên cứu. Đặc biệt, các lý thuyết nền tảng như lý thuyết hạnh phúc chủ quan, lý thuyết hệ sinh thái và tiếp cận quyền trẻ em có thể gợi mở các hướng nghiên cứu về hạnh phúc của học sinh và xây dựng mô hình trường học hạnh phúc ở Việt Nam.

  • INCLUSIVE EDUCATION IN DIGITAL ERA: OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIET NAM

    Implementing the inclusive education program for children with disabilities is one of the crucial tasks of the education sector, ensuring equality in education and creating learning opportunities for all. Similar to general education, in the current era of rapid scientific and technological advancement, applying advancements in science and technology to inclusive education programs for children with disabilities is essential to enhance educational effectiveness. In this article, through a comprehensive review of recent literature, the author introduces the concept of inclusive education and focuses on analyzing the opportunities and challenges in applying scientific and technological achievements into the inclusive education program in Vietnam. Based on this analysis, the author proposes suitable approaches for implementing inclusive education in Vietnam.

  • SỰ ĐÁP ỨNG VỀ HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI MỘT ĐỊA PHƯƠNG NÔNG THÔN MỚI: Trường hợp xã Đức Hòa Đông, tỉnh Long An (cũ)

    Dựa trên dữ liệu định tính qua khảo sát (năm 2023) và tư liệu thứ cấp, bài viết phân tích thực trạng sự đáp ứng về hạ tầng kinh tế - xã hội ở xã Đức Hòa Đông, tỉnh Long An (cũ). Nghiên cứu cho thấy tại Đức Hòa Đông, một địa bàn đạt chuẩn nông thôn mới có hạ tầng kinh tế - xã hội địa phương được chú trọng đầu tư, nâng cấp mang lại sự chuyển biến diện mạo đáng kể của địa phương trong thời gian qua. Tuy nhiên, các tiêu chí về giao thông, thủy lợi và phòng chống thiên tai, trường học và cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn qua ý kiến người dân còn một số bất cập, cần được tiếp tục đầu tư, nâng cấp. Điều này đặt ra vấn đề cần tiếp tục đánh giá nhu cầu thực tế của các địa phương đang công nghiệp hóa trong xây dựng nông thôn mới để có những định hướng phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp.

  • THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI DÂN VEN BIỂN - Trường hợp huyện Trần Đề, Sóc Trăng (cũ)

    Trần Đề là huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng, có nguồn tài nguyên đa dạng, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp nhưng dưới tác động của biến đổi khí hậu, hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân đang bị đe dọa bởi nhiều hiện tượng thiên nhiên tiêu cực như xâm nhập mặn, hạn hán, thời tiết thất thường, ngập lụt do triều cường, nước biển dâng… Dựa trên các dữ liệu khảo sát định lượng và định tính, bài viết phân tích tác động của biến đổi khí hậu tới sản xuất nông nghiệp và các biện pháp thích ứng của người dân ven biển ở huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa khả năng thích ứng của cộng đồng dân cư tại đây trước các điều kiện biến đổi khí hậu.

  • LỚP HỌC TÌNH THƯƠNG VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ GIÁO DỤC – TRƯỜNG HỢP TRẺ EM NHẬP CƯ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Bài viết phân tích vai trò của các lớp học tình thương, lớp phổ cập tại TPHCM như một mô hình giáo dục phi chính quy có ý nghĩa nhân văn và xã hội sâu sắc. Nghiên cứu cho thấy các lớp học này đã góp phần bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em nhập cư và nhóm yếu thế trong bối cảnh rào cản hành chính, pháp lý và kinh tế còn tồn tại. Tuy nhiên, việc thiếu khung pháp lý, cơ chế phối hợp và nguồn lực tài chính bền vững đang làm hạn chế tính ổn định và khả năng kết nối với hệ thống giáo dục chính quy. Trên cơ sở đó hàm ý hoàn thiện chính sách để tích hợp mô hình này vào hệ thống giáo dục chính quy bền vững hơn.

  • TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản là điều kiện thiết yếu để bảo đảm quyền về sức khỏe cơ bản cho phụ nữ, đặc biệt tại khu vực nông thôn nơi còn tồn tại nhiều rào cản về kinh tế, nhận thức và hạ tầng y tế. Từ dữ liệu khảo sát 542 phụ nữ tại hai tỉnh An Giang và Bến Tre năm 2023 bài viết phân tích thực trạng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ nông thôn tại Đồng bằng sông Cửu Long về chăm sóc sức khỏe phụ khoa và thai kỳ, trên cơ sở đó khuyến nghị giải pháp nhằm bảo đảm tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS hướng tới công bằng và an toàn cho phụ nữ.

  • SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN KHỐI Y TẾ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: MỘT TIẾP CẬN XÃ HỘI HỌC

    Sinh viên khối y tế thường chịu áp lực học tập, nghề nghiệp và văn hóa - xã hội, điều này khiến họ có nhiều nguy cơ bị suy giảm sức khỏe tinh thần. Dựa vào các dữ liệu khảo sát định lượng và định tính từ 525 sinh viên của Trường Đại học Y Dược TPHCM và Trường Đại học Y Dược Phạm Ngọc Thạch, nghiên cứu phân tích đặc điểm sức khỏe tâm thần của sinh viên khối y tế tại TPHCM theo các đặc điểm nhân khẩu - xã hội và kinh tế - xã hội gia đình, dựa trên hai thang đo WHO-5 và GHQ-12. Kết quả cho thấy có 56,4% sinh viên khối y tế TPHCM qua khảo sát khỏe mạnh tinh thần (WHO-5 > 13) và 59,8% có nguy cơ đau khổ tâm lý (GHQ-12 ≥ 3). Trong đó, nhóm có sức khỏe tâm thần kém tập trung ở sinh viên RHM, sinh viên nữ và sinh viên thuộc nhóm thu nhập gia đình thấp. Kết quả này gợi ý các thiết kế can thiệp theo ngành học, giới tính và hỗ trợ tài chính nhằm nuôi dưỡng cả trạng thái tinh thần tích cực và giảm thiểu nguy cơ đau khổ tâm lý cho sinh viên khối y tế.

  • CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ CỦA TRUNG QUỐC - HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

    Thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp công nghệ ngày càng thể hiện vai trò quan trọng là một động lực không thể thiếu trong phát triển khoa học công nghệ nói riêng và trong chiến lược phát triển quốc gia nói chung. Trung Quốc là một điển hình của Châu Á, từ một nước “gia công” nay đã và đang ghi dấu ấn trên bản đồ công nghệ thế giới. Bài viết tổng quan các chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp công nghệ của Trung Quốc từ đó phân tích và đưa ra gợi ý chính sách cho Việt Nam nhằm hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước.

  • THỰC TRẠNG BỆNH MÃN TÍNH CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH Ở VÙNG NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC

    Bệnh mãn tính với thời gian mắc bệnh kéo dài và tiến triển chậm đã trở thành gánh nặng y tế toàn cầu với những thách thức đáng kể về mặt xã hội, kinh tế và chăm sóc sức khỏe. Từ dữ liệu điều tra định lượng và định tính năm 2023 tại bốn cộng đồng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long, bài viết tìm hiểu tình trạng bệnh mãn tính của người dân vùng này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bệnh mãn tính của cư dân nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long khá cao cùng với tình trạng đa bệnh tật và nhiều yếu tố tác động đến bệnh tật này. Ngoài các yếu tố như lao động quá sức, đồ ăn thức uống độc hại và chế độ ăn uống không điều độ, nghiên cứu còn cho thấy tính chất cực đoan của khí hậu và ô nhiễm môi trường đã làm gia tăng về số lượng và làm trầm trọng hơn các bệnh mãn tính.

Tin nổi bật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1