1. Giới thiệu Trung tâm
Trung tâm nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo tiền thân là Ban Dân tộc học, 50 năm hình thành và phát triển, Trung tâm đã trải qua một số lần tái cấu trúc với các tên gọi khác nhau. Theo Quyết định số 921/QĐ-KHXH của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, từ ngày 23/7/2025 Trung tâm có tên gọi như hiện nay.
Giai đoạn nền tảng (năm 1975 - 2000), các công trình nghiên cứu của Trung tâm đã đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về dân tộc và tôn giáo ở Nam Bộ. Các nghiên cứu tập trung vào các tộc người Khmer, Hoa, Chăm, các dân tộc ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, cung cấp những luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Giai đoạn phát triển chuyên sâu và liên ngành (năm 2000 - 2025), các công trình nghiên cứu không chỉ từ góc độ chuyên ngành dân tộc học và tôn giáo học, mà đẩy mạnh các nghiên cứu chuyên sâu của ngành Dân tộc học/Nhân học, như: Nhân học y tế, Nhân học dinh dưỡng, Nhân học kinh tế, Nhân học ứng dụng… và liên đa ngành với nhiều ngành khoa học xã hội khác. Những vấn đề nghiên cứu gắn với thực tiễn về dân tộc và tôn giáo ở các địa phương vùng Nam Bộ, phục vụ công tác tư vấn chính sách cho các bộ, ngành và địa phương trong vùng.
2. Một số công trình nổi bật
- Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng (Mạc Đường (chủ biên), Sở Văn hóa tỉnh Lâm Đồng, 1983)
- Vấn đề dân tộc ở Sông Bé (Mạc Đường chủ biên, Nxb. Sông Bé, 1985)
- Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long (Mạc Đường, Phan An, Đinh Văn Liên, Phan Thị Yến Tuyết, Phan Văn Dốp, Nguyễn Việt Cường, Nxb. Khoa học xã hội, 1991)
- Văn hóa Chăm (Phan Xuân Biên, Phan An và Phan Văn Dốp, Nxb. Khoa học xã hội, 1991)
- Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ - Tín ngưỡng & Tôn giáo (Trần Hồng Liên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005)
- Người Kơ ho ở Lâm Đồng. Nghiên cứu Nhân học về dân tộc và văn hóa (Phan Ngọc Chiến, Nxb Trẻ, 2005)
- Cộng đồng người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ trong quan hệ giới và phát triển (Phan Văn Dốp, Nguyễn Thị Nhung, Nxb. Nông nghiệp, 2006)
- Dân tộc Khmer Nam Bộ (Phan An, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2009)
- Một số vấn đề về dân tộc và tôn giáo ở Nam Bộ trong phát triển (Vương Hoàng Trù, Phú Văn Hẳn, chủ biên; Nxb. Khoa học xã hội, 2012)
- Người Chăm với Bác Hồ (Phú Văn Hẳn, chủ biên, Nxb. Văn hóa dân tộc, 2015)
- Tri thức dân gian của người Chăm trong chăm sóc sức khỏe phụ nữ giai đoạn mang thai, cho con bú. Nghiên cứu ở tỉnh Tây Ninh (Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam - Nxb. Mỹ thuật, 2018)
3. Định hướng phát triển:
- Về các chủ đề nghiên cứu cơ bản:
+ Những vấn đề dân tộc ở Nam Bộ trong bối cảnh hiện nay, như: quan hệ dân tộc; giảm nghèo, lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, y tế và chăm sóc sức khỏe, văn hóa gắn với kế bền vững; di cư; truyền thông ở vùng tộc người thiểu số; phân tích, đánh giá chính sách dân tộc…
+ Nghiên cứu những vấn đề tôn giáo đương đại: đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; chuyển đổi tôn giáo, tín ngưỡng; vai trò, ảnh hưởng, tác động của tôn giáo với các vấn đề đời sống xã hội, như: tôn giáo với xây dựng khối đại đoàn kết toàn, tôn giáo với an sinh xã hội…
- Về nhân lực, đào tạo: Định hướng thời gian tới, phát triển đội ngũ cán bộ có học thạc sĩ, tiến sĩ.
- Hợp tác - trao đổi khoa học: Tăng cường hợp tác với Viện Dân tộc học và Tôn giáo học thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Sở Dân tộc và Tôn giáo các tỉnh vùng Nam Bộ, các viện nghiên cứu, các trường đại học có đào tạo, nghiên cứu về dân tộc học và tôn giáo học ở TPHCM và các tỉnh vùng Nam Bộ… Hợp tác với đội ngũ chuyên gia về dân tộc và tôn giáo ở Trung tâm và Viện đã nghỉ hưu.
- Chiến lược phát triển trong ngắn hạn, trung hạn
+ Nâng cao chất lượng và tính ứng dụng của nghiên cứu: 100% công trình nghiên cứu có công bố kết quả trên các tạp chí khoa học HĐCDGSNN; đẩy mạnh chuyển giao kết quả nghiên cứu tư vấn chính sách; phổ biến kiến thức trong lĩnh vực dân tộc và tôn giáo học tăng cường thực hiện các đề tài nghiên cứu trọng điểm, có tính đột phá, dự báo các vấn đề mới nổi…
+ Phát triển đội ngũ nhân lực: 100% cán bộ nghiên cứu có trình độ thạc sĩ trở lên; trong đó: ít nhất 50% số lượng cán bộ có trình độ Tiến sĩ. Mở rộng liên kết, hợp tác và phối hợp với các nhà nghiên cứu trong và ngoài Viện.