Tóm tắt: Tồn tại chính thức chỉ trong 9 tháng, nhưng Đông Kinh Nghĩa thục đã trở thành trường học Duy tân lớn nhất Việt Nam, phát huy ảnh hưởng đến khắp hai miền Trung-Bắc, góp phần cùng các phong trào cải cách xã hội khác mở ra một thời đại văn hóa mới cho dân tộc. Tìm hiểu về hoạt động của phong trào này sẽ là bài học bổ ích, hấp dẫn với những ai muốn vươn tới tương lai một cách vững vàng trên cơ sở những kinh nghiệm thành bại của tiền nhân.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: LÝ TÙNG HIẾU
Tóm tắt: Bài viết khảo sát các thành tố trong giá trị thương hiệu nệm Vạn Thành. Thông qua dữ liệu từ 295 bản câu hỏi được trả lời, mô hình nghiên cứu được kiểm định qua phương pháp cấu trúc tuyến tính cho thấy 3 thành tố tạo nên giá trị thương hiệu nệm Vạn Thành bao gồm: chất lượng cảm nhận, hình ảnh thương hiệu, và lòng trung thành với thương hiệu.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: LƯU HOÀNG MAI - LƯU THỊ BÍCH NGỌC
Tóm tắt: Đa số các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tại Việt Nam đánh giá thành tích công tác là để xét khen thưởng thi đua. Một số cơ quan dựa vào bản mô tả công việc (job description) của nhân viên để đánh giá nhân viên. Tuy nhiên những biện pháp đánh giá đó chỉ là đánh giá những hành động trong quá khứ. Chúng không làm rõ những hành động định hướng cho tương lai, nhằm tạo ra giá trị cho tương lai, mà đây cũng là phần quan trọng của thành tích công tác hàng năm. Muốn đánh giá nhân viên một cách toàn diện cả trong quá khứ và định hướng tương lai, các cơ quan nên dựa vào các chỉ số KPI (Key Performance Indicator = Chỉ số đo lường sự hoàn thành công việc cốt yếu). Chỉ số KPI hướng vào bốn triển vọng (perspectives) của thẻ điểm cân bằng (balanced scorecard) là tài chính, khách hàng, hoạt động nội bộ, học tập và phát triển. Các tiêu chuẩn này nên được xây dựng trên nền tảng mục tiêu chiến lược của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, vì chúng rất cần thiết cho sự cạnh tranh và phát triển thành công.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: NGUYỄN MINH ĐẠT
Tóm tắt: Bạo lực học đường (còn gọi là bắt nạt trường học) là những lời nói hoặc hành động bạo lực nhằm làm tổn hại đến thể chất hoặc tinh thần của người khác diễn ra bên trong hoặc bên ngoài phạm vi trường học, mà chủ thể và đối tượng của bạo lực học đường là giáo viên và học sinh. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng và kết quả nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, bạo lực học đường có xu hướng ngày càng gia tăng và mức độ ngày càng nghiêm trọng, thậm chí có trường hợp giết người hàng loạt. Điều này đã làm cho bạo lực học đường thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bài viết này nhằm nêu lên thực trạng và tình hình nghiên cứu bạo lực học đường hiện nay ở Việt Nam, nhằm góp phần ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường đang ngày càng gia tăng và phức tạp hơn.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: ĐINH ANH TUẤN
Tóm tắt: Nếu như việc sử dụng ngôn ngữ là hoạt động giao tiếp văn hóa thì việc sử dụng một ngoại ngữ là hoạt động giao tiếp liên văn hóa. Cho nên việc dạy một ngoại ngữ phải bao gồm việc dạy văn hóa. Phương pháp giao tiếp liên văn hóa có tầm quan trọng trong việc dạy ngoại ngữ, đặc biệt là việc dạy tiếng Anh cho người Việt do sự khác biệt giữa hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: NGUYỄN KIM LOAN
Tóm tắt: Bài viết phác thảo diện mạo năm dòng phái Thơ mới tiêu biểu của Trung Quốc trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (Thưởng thí phái, Nhân sinh phái - Vị nhân sinh phái, Sáng tạo xã, Tân nguyệt phái, Thất nguyệt phái). Mỗi nhà Thơ mới trong từng dòng phái tuy có sự sáng tạo độc lập, có bản sắc riêng, cái nhìn riêng,… nhưng đều chung một mục đích hướng đến sự tự do, hiện đại trong sáng tác về ngôn từ, tứ thơ, nội dung và hình thức nghệ thuật. Nhận diện Thơ mới tại Trung Quốc trên các phương diện nội dung, nghệ thuật và quá trình tiếp nhận cho thấy có nhiều điểm tương đồng với phong trào Thơ mới 1932-1945 ở Việt Nam, kể cả hiện tượng các nhà Thơ mới “nhận đường”, “tìm đường” và nhập cuộc vào nền thơ cách mạng và hiện đại sau đó.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
Tóm tắt: Trên cơ sở khảo sát ngữ liệu ẩn dụ trong các bài diễn thuyết chính trị nổi tiếng của Mỹ, bài viết nêu lên tầm quan trọng và một số đặc điểm của ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị, một đề tài nghiên cứu vẫn còn mới mẻ tại Việt Nam. Kết quả cho thấy: sự nắm bắt tinh tế trong kết nối các quan điểm chính trị và điển tích trong ẩn dụ giúp tăng tính thuyết phục và tính liên tưởng nơi người tiếp nhận; có 14 miền nguồn thông dụng dùng diễn tả các ý niệm liên quan đến khái niệm nền tảng của hệ thống chính trị Mỹ; một số ẩn dụ tri nhận về ý niệm “tự do” thể hiện sự vận dụng đa dạng các miền ý niệm, và đặc biệt miền ý niệm liên quan đến “tự nhiên” và “giá trị kinh tế/ tài chính” đã khắc họa rõ tính chất của nền văn hóa thực dụng và lối sống gần gũi với thiên nhiên của người Mỹ.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu tổ chức dòng họ của người Hoa ở Tây Nam Bộ qua việc nghiên cứu chọn mẫu, vận dụng lý thuyết chức năng và lý thuyết lựa chọn duy lý trong ngành nhân học. Bài viết lập luận rằng: a) Nhu cầu và tiến trình tâm lý của cá nhân là nguồn gốc và mục tiêu của những hoạt động và hành vi có tổ chức, cụ thể ở đây xuất phát từ nhu cầu tâm lý hướng về cội nguồn và nhu cầu tương trợ trong cuộc sống mà người Hoa đã kiến tạo nên những tổ chức xã hội (trong đó có tổ chức dòng họ); b) Đồng thời, sự thay đổi của môi trường xã hội đã đưa đến những lựa chọn duy lý và làm thay đổi qui ước chung. Trong bối cảnh của một cộng đồng thiểu số nhập cư ở Tây Nam Bộ, người Hoa đã có những chiến lược lựa chọn duy lý để thiết lập một nền tảng xã hội mới và hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam, và điều đó đã làm thay đổi những qui ước mang tính truyền thống của tộc người mình.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: NGUYỄN THỊ NHUNG
Tóm tắt: Triết học pháp quyền (1724-1804) là một phần rất quan trọng trong hệ thống triết học của Immanuel Kant nhằm giải quyết vấn đề: tự do của con người có được từ đâu, làm thế nào để đảm bảo quyền tự do đó, và bằng cách nào con người có thể tiến dần đến “vương quốc của tự do” (Reich der Freiheit). Tất cả những vấn đề trên đã được Kant phân tích trong các tác phẩm Siêu hình học của đạo đức (Die Metaphysik der Sitten) (1797); Đặt nền móng cho siêu hình học của đạo đức (Grundlegung zur Metaphysik der Sitten) (1785); Tiến tới hòa bình vĩnh cửu. Một phác thảo triết học (Zum ewigen Frieden. Ein philosophischer Entwurf) (1795). Mặc dù còn bị hạn chế bởi thời đại, tư tưởng triết học pháp quyền của Kant vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của triết học phương Tây, đặc biệt là đối với thể chế chính trị và pháp quyền nước Đức.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội số 02 năm 2014
Tác giả: NGÔ THỊ MỸ DUNG
Tóm tắt: DẤU ẤN VĂN HÓA Ở CĂN CỨ ĐỒNG THÁP MƯỜI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
Nguồn:
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
​​
Tạp chí khoa học xã hội                                               
 270 Nguyễn Trọng Tuyển, P.8, Q. Phú Nhuận, 
TP. Hồ Chí Minh
​​​​​​